Tội cưỡng dâm theo Điều 143 Bộ luật Hình sự

50

Cưỡng dâm là hành vi dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác. Vậy, người phạm tội cưỡng dâm sẽ bị xử lý như thế nào ?

Tội cưỡng dâm, bị xử lý như thế nào ?
Tội cưỡng dâm, bị xử lý như thế nào ?

1. Tội cưỡng dâm, những dấu hiệu cơ bản

a. Về phía người phạm tội

Người phạm tội cưỡng dâm dùng rất nhiều thủ đoạn khác nhau như: lừa phỉnh, mua chuộc, dụ dỗ, đe dọa hoặc bằng tình cảm, bằng tiền bạc, có khi chỉ là một lời hứa… Tức là người phạm tội không từ một thủ đoạn nào miễn là thực hiện được ý đồ giao cấu với người bị hại hoặc lợi dụng người bị hại đang ở trong tình trạng quẫn bách để họ phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với mình.

Đối với tội cưỡng dâm, hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân không chỉ là dấu hiệu khách quan của cấu thành mà nó là dấu hiệu bắt buộc (dấu hiệu cần và đủ). Nếu các dấu hiệu khác đã thỏa mãn nhưng chưa có việc giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác xảy ra, thì chưa cấu thành tội phạm. Vì vậy đối với tội cưỡng dâm, không có giai đoạn phạm tội chưa đạt.

Chủ thể của tội phạm là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ đủ 16 tuổi trở lên. Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

b. Về phía người bị hại

Người bị hại trong vụ án cưỡng dâm cũng có thể là nam giới, nhưng chủ yếu là nữ giới. Dù là nam hay nữ, thì họ phải là người lệ thuộc vào người phạm tội, nếu không phải là người bị lệ thuộc thì cũng phải là người đang ở trong tình trạng quẫn bách.

Người bị lệ thuộc vào người phạm tội cũng giống như sự lệ thuộc trong các tội “hành hạ người khác”, tội “bức tử” bao gồm sự lệ thuộc về tinh thần cũng như lệ thuộc về mặt vật chất bắt nguồn từ nhiều quan hệ khác nhau như: cha với con, thầy với trò, thầy thuốc với bệnh nhân, cha cố với con chiên…

Người ở trong tình trạng quẫn bách là người tuy không có mối quan hệ lệ thuộc với người phạm tội, nhưng do nhiều nguyên nhân họ rơi vào tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu với người phạm tội, người rơi vào tình trạng này không còn sáng suốt lựa chọn một xử sự bình thường như những người khác hoặc trong lúc bình thường khác.

Dù là người bị lệ thuộc vào người phạm tội hay người ở trong tình trạng quẫn bách thì việc giao cấu với người phạm tội là do miễn cưỡng. Sự miễn cưỡng của người bị hại là ý thức chủ quan của họ, nên trong nhiều trường hợp việc xác định nó không phải bao giờ cũng dễ dàng. Có người, lúc giao cấu họ không hề miễn cưỡng nhưng sau đó vì một lý do nào đó họ lại tố cáo rằng mình phải miễn cưỡng giao cấu hoặc ngược lại, lúc giao cấu họ đã miễn cưỡng nhưng sau đó họ lại khai là không có sự miễn cưỡng.

Tình trạng quẫn bách của người bị hại (nạn nhân) trong vụ án cưỡng dâm là trường hợp người bị hại vẫn còn nhận thức được, còn có khả năng tự vệ nhưng vì sự lệ thuộc hoặc đang ở trong tình trạng quẫn bách không còn cách nào khác mà buộc phải giao cấu hoặc để cho người phạm tội quan hệ tình dục khác. Do đó, đối với tội cưỡng dâm, nạn nhân thường bị ép buộc về ý chí hơn là về sức mạnh vũ lực.

Vì vậy, để xác định người bị hại có miễn cưỡng giao cấu với người phạm tội hay không cần phải căn cứ vào các tình tiết khách quan của vụ án mà đặc biệt là mối quan hệ lệ thuộc giữa người bị hại với người phạm tội, hoàn cảnh lúc xảy ra việc giao cấu.

Xem thêm : Tội hiếp dâm và tội cưỡng dâm, khác nhau như thế nào ?

2. Tội cưỡng dâm, bị xử lý như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể :

“Điều 143. Tội cưỡng dâm

1. Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Nhiều người cưỡng dâm một người;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Có tính chất loạn luân;

đ) Làm nạn nhân có thai;

e) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 18 năm:

a) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Cưỡng dâm người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội cưỡng dâm theo Điều 143 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.