Tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 170 Bộ luật Hình sự

62

Cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác để người bị đe dọa sợ mà phải giao tài sản cho mình hoặc vì sợ mà để người phạm tội chiếm đoạt tài sản. Vậy, người phạm tội cưỡng đoạt tài sản có thể bị phạt đến 20 năm tù.

Tội cưỡng đoạt tài sản có thể bị phạt đến 20 năm tù
Tội cưỡng đoạt tài sản có thể bị phạt đến 20 năm tù

1. Tội cưỡng đoạt tài sản, những dấu hiệu cơ bản

a. Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi trở lên (phạm tội thuộc Khoản 1) hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên (phạm tội thuộc Khoản 2, 3, 4) và có năng lực trách nhiệm hình sự.

b. Các dấu hiệu về khách thể của tội phạm

Khách thể của tội cưỡng đoạt tài sản cũng tương tự như tội cướp tài sản và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tức là cùng một lúc xâm phạm đến hai khách thể (quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân) nhưng chủ yếu là quan hệ tài sản.

Nếu có xâm phạm đến quan hệ nhân thân thì không phải là những thiệt hại về thể chất (tính mạng, thương tật), mà chỉ có thể là những thiệt hại về tinh thần (sự sợ hãi, lo âu), tuy có ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng không gây ra thương tích cho bị hại; tính chất và mức độ xâm phạm đến quan hệ nhân thân cũng ít nghiêm trọng hơn nhiều so với tội cướp tài sản hoặc tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.

Tuy nhiên, thời gian gần đây, nhiều địa phương hình thành các băng nhóm cho vay lãi nặng, khi người vay không có khả năng trả nợ, bọn chúng đã sử dụng nhiều thủ đoạn nhằm đe dọa người vay tiền phải trả nợ cho bọn chúng như viết thư hăm dọa, tạt chất bẩn vào cửa… cũng làm cho bị hại ảnh hưởng đến tinh thần. Trong trường hợp này, cơ quan tiến hành tố tụng nên đưa người bị hại đi giám định để xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể như thế nào, nhằm áp dụng đúng khoản của điều luật.

c. Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm

+ Hành vi khách quan

Người phạm tội cưỡng đoạt tài sản có thể thực hiện một trong những hành vi khách quan sau:

Hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực

Đe dọa sẽ dùng vũ lực là hành vi có thể được thực hiện bằng cử chỉ, hành động hoặc bằng lời nói… Nhưng dù được thực hiện bằng hình thức nào thì việc dùng vũ lực cũng không xảy ra ngay tức khắc. Trong thực tế, có những trường hợp bị hại bị người phạm tội đe dọa sẽ dùng vũ lực nếu không giao tài sản cho người phạm tội nhưng bị hại không sợ và không giao tài sản cho người phạm tội, sau đó người phạm tội đã thực hiện hành vi vũ lực đối với bị hại thì cũng không phải là hành vi cướp tài sản mà vẫn là hành vi cưỡng đoạt tài sản.

Nếu xác định người phạm tội chỉ đe dọa sẽ dùng vũ lực chứ không có căn cứ cho rằng người phạm tội dùng vũ lực ngay tức khắc nếu người có trách nhiệm về tài sản không giao tài sản cho người phạm tội, thì đó là hành vi cưỡng đoạt tài sản.

Người phạm tội có thể đe dọa sẽ dùng vũ lực đối với người có trách nhiệm về tài sản nhưng cũng có thể đe dọa sẽ dùng vũ lực đối với người khác (chủ yếu là đối với người thân của người có trách nhiệm với tài sản).

Những thủ đoạn người phạm tội dùng để uy hiếp tinh thần bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản

Ngoài hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực đối với người có trách nhiệm về tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản, thì người phạm tội còn có thể thực hiện những thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người có trách nhiệm về tài sản để chiếm đoạt tài sản.

Thông thường, người phạm tội dùng những thủ đoạn như:

– Dọa sẽ hủy hoại tài sản nếu người có trách nhiệm về tài sản không giao tài sản cho người phạm tội.

Ví dụ: Dọa sẽ đốt nhà, đốt xe; dọa sẽ đập phá nhà, đập phá xe hoặc những tài sản khác…

– Dọa sẽ tố cáo hành vi sai phạm hoặc những bí mật đời tư của người có trách nhiệm về tài sản mà họ không muốn cho ai biết.

Ví dụ: A biết B có ngoại tình với chị H, nên A viết thư yêu cầu B phải giao cho y một số tiền, nếu không y sẽ nói cho vợ của B biết về việc ngoại tình của B.

– Bịa đặt, vu khống người có trách nhiệm về tài sản.

Ví dụ: Trần Tuấn A là phóng viên một tờ báo ngành, viết một bài vu khống ông Nguyễn Văn T là Phó chủ tịch ủy ban nhân dân huyện đã quan hệ bất chính với chị Trần Thị M là nhân viên văn thư của huyện. Tuấn A không gửi bài đăng báo mà gửi cho ông T với lời yêu cầu bóng gió “anh nên thu xếp cho êm” và gọi điện thoại gợi ý nếu ông T chi một số tiền, y sẽ “dẹp yên” chuyện này. Mặc dù không có việc quan hệ bất chính với chị M, nhưng vì sợ nếu A cho đăng bài báo thì uy tín của mình bị ảnh hưởng, nhất là sắp đến kỳ bầu cử lại hội đồng nhân dân huyện, nên ông T đã phải giao cho A 20.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, Tuấn A thấy có thể tiếp tục tống tiền được ông T nên lại gọi điện yêu cầu ông giao thêm tiền để lo việc, nhưng ông T đã tố cáo hành vi tống tiền của A.

– Giả danh là cán bộ, chiến sĩ công an, quân đội, thuế vụ, hải quan… để kiểm tra, bắt giữ, khám người có trách nhiệm về tài sản buộc họ phải giao nộp tiền hoặc tài sản.

Ví dụ: Bùi Huy T, Vũ Văn Đ và Hoàng Văn H đã giả danh cảnh sát giao thông để chặn xe tải do anh Đinh Văn Th lái, buộc anh Th phải nộp 50.000.000 đồng nếu không sẽ đưa xe về trụ sở. Vì anh Th chở hàng tươi sống, nếu để chúng đưa xe về trụ sở thì sẽ hỏng hết hàng nên anh Th đã giao cho bọn chúng 50.000.000 đồng.

Cưỡng đoạt tài sản là hành vi được thực hiện một cách công khai, trắng trợn. Tuy nhiên, sự công khai, trắng trợn chủ yếu đối với người có trách nhiệm về tài sản, còn đối với những người khác, người phạm tội không quan tâm, nếu hành vi phạm tội được thực hiện ở nơi công cộng, người phạm tội chỉ công khai, trắng trợn với người có trách nhiệm về tài sản còn những người khác thì người phạm tội lại có ý thức lén lút.

+ Hậu quả

Tội cưỡng đoạt tài sản là tội có cấu thành hình thức, do đó cũng như đối với tội cướp tài sản và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, hậu quả không phải là yếu tố bắt buộc để định tội, nếu người phạm tội chưa gây ra hậu quả nhưng có ý thức chiếm đoạt và đã thực hiện hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người có trách nhiệm về tài sản là tội phạm đã hoàn thành. Tuy nhiên, nếu gây ra hậu quả thì tùy thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm mà người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt nặng hơn hoặc là tình tiết xem xét khi quyết định hình phạt.

Nếu hậu quả chưa xảy ra (người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản) thì cũng không vì thế mà cho rằng tội cưỡng đoạt tài sản được thực hiện ở giai đoạn chưa đạt, vì người phạm tội đã thực hiện hành vi khách quan đó là đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc đã dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người có trách nhiệm đến tài sản. Tuy nhiên, nếu người phạm tội chưa thực hiện hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc chưa dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người có trách nhiệm về tài sản, thì hành vi phạm tội thuộc trường hợp chuẩn bị phạm tội.

Ví dụ: A, B, C bàn bạc sẽ viết thư đe dọa D nhằm buộc D phải giao cho chúng một số tiền, nhưng chưa viết thư hoặc đã viết thư rồi nhưng chưa gửi cho D thì bị phát hiện.

Theo quy định tại Điều 14 Bộ luật Hình sự thì người chuẩn bị phạm tội cưỡng đoạt tài sản không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, vì theo khoản 2 Điều 14 Bộ luật Hình sự thì “người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các Điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự” (không có Điều 170).

Do cấu tạo của Điều 170 Bộ luật Hình sự không có quy định trường hợp gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác là tình tiết định khung hình phạt. Do đó, nếu người phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của bị hại hoặc của người khác thì tùy từng trường hợp mà người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Ví dụ: Sau khi đã cưỡng đoạt được tài sản, người phạm tội bỏ đi thì bị phát hiện nên đã dùng vũ lực tấn công bị hại hoặc người đuổi bắt, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của những người này.

d. Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm

Tội cưỡng đoạt tài sản được thực hiện do cố ý. Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản. Nếu hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người có trách nhiệm về tài sản lại nhằm một mục đích khác mà không nhằm chiếm đoạt tài sản thì không phải là tội cưỡng đoạt tài sản mà tùy từng trường hợp cụ thể, người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm tương ứng khác.

Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc để xác định tội danh. Tuy nhiên, ngoài mục đích chiếm đoạt, người phạm tội còn có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác thì người phạm tội cũng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản.

Xem thêm : Phân biệt tội cưỡng đoạt tài sản và tội cướp giật tài sản

2. Tội cưỡng đoạt tài sản, bị xử lý như thế nào ?

Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản

1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Trong trường hợp hành vi vi phạm chưa nghiêm trọng đến mức cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính.

Cụ thể, theo Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội: người có hành vi cưỡng đoạt tài sản nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Ngoài ra, người có hành vi vi phạm trên còn bị buộc trả lại tài sản do chiếm giữ trái phép.

3. Nạn nhân rút đơn, người phạm tội cưỡng đoạt tài sản có phải chịu trách nhiệm hình sự ?

Căn cứ theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự, cụ thể :

“Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”

Như vậy, tội cưỡng đoạt tài sản không được liệt kê vào tội khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nên cho dù nạn nhân rút đơn nhưng do hành vi của người phạm tội vi phạm pháp luật nên cơ quan điều tra vẫn sẽ tiến hành khởi tố theo đúng quy định về tố tụng hình sự.

Trường hợp người phạm tội trả hết số tiền đã chiếm đoạt thì việc trả tiền này là việc người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và việc bên bị hại bãi nại thì hai tình tiết này cũng chỉ được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Xem thêm : Phạm tội cưỡng đoạt tài sản có được hưởng án treo không ?

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 170 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.