Tội cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự

126

Hiện nay tình trạng cướp ngân hàng xảy ra khá nhiều trong cuộc sống. Vậy người phạm tội cướp tài sản bị xử lý như thế nào và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội này là bao nhiêu ?

Tội cướp tài sản bị xử lý như thế nào ?
Tội cướp tài sản bị xử lý như thế nào ?

1. Cướp tài sản là gì ?

Cướp tài sản là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.

2. Tội cướp tài sản, những dấu hiệu cơ bản

a. Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm

Người phạm tội cướp tài sản phải là người đủ từ 14 tuổi trở lên và khi thực hiện hành vi phạm tội không mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Bởi vì, tội cướp tài sản quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự là tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý.

b. Các dấu hiệu về khách thể của tội phạm

Đối với tội cướp tài sản, khách thể của tội phạm bao gồm cả quan hệ về tài sản và quan hệ nhân thân, hay nói cách khác, tội cướp tài sản là tội phạm cùng một lúc xâm phạm hai khách thể, nhưng khách thể bị xâm phạm trước là quan hệ nhân thân, thông qua việc xâm phạm đến nhân thân mà người phạm tội xâm phạm đến quan hệ tài sản (dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản), nếu không xâm phạm đến quan hệ nhân thân thì người phạm tội cướp tài sản không thể xâm phạm đến quan hệ sở hữu được. Đây cũng là đặc trưng cơ bản của tội cướp tài sản.

Xem thêm : Phân biệt tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản

c. Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm

+ Hành vi khách quan

Tội phạm thể hiện ở hành vi chiếm đoạt bằng các thủ đoạn được điều luật mô tả như: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, hoặc các hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Hành vi chiếm đoạt là hành vi mong muốn dịch chuyển tài sản của người khác thành tài sản của mình trái pháp luật và trái ý chí của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản. Cụ thể:

– Hành vi dùng vũ lực được hiểu là hành vi chủ động tấn công bằng sức mạnh vật chất như đấm, đá, bắn, chém, bóp cổ, bẻ tay, khóa chân tay… Việc dùng vũ lực này phải nhằm tác động vào thân thể của người khác. Tuy nhiên không phải mục đích dùng vũ lực là để gây thương tích hoặc giết người khác như trong tội giết người hoặc cố ý gây thương tích mà việc dùng vũ lực ở đây là để người bị tấn công không chống cự được để chiếm đoạt tài sản.

– Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là việc người phạm tội chỉ dùng lời nói hoặc các biểu hiện khác nhưng chưa thực hiện hành vi dùng vũ lực tấn công như phân tích trên. Việc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc đòi hỏi hai điều kiện: một là, mục đích là làm người bị đe dọa dùng vũ lực mất khả năng chống cự, khiến họ lo sợ và tin rằng có thể bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của họ nếu không để người đe dọa lấy tài sản; hai là hành vi đe dọa dùng vũ lực phải là đe dọa dùng ngay tức khắc, tức là người phạm tội làm cho người bị đe dọa hiểu rằng nếu không để lấy tài sản sẽ ngay lập tức bị dùng vũ lực.

– Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được là hành vi làm cho người bị tấn công tuy biết sự việc đang xảy ra nhưng không có cách nào chống cự được (như: nhốt vào phòng kín, trói và nhét giẻ vào miệng không kêu cứu được); hoặc tuy không bị nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ nhưng không thể nhận thức được sự việc đang xảy ra (như: bỏ thuốc mê để cướp tài sản…).

Người bị hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác tác động tới là chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu tài sản (người không phải chủ sở hữu nhưng được chủ sở hữu chuyển giao bằng hợp đồng hoặc ủy quyền quản lý tài sản).

+ Hậu quả của tội phạm

Tội cướp tài sản là tội có cấu thành tội phạm hình thức ở trường hợp người phạm tội dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, tội phạm được coi là hoàn thành kể từ thời điểm người phạm tội thực hiện một trong các hành vi nêu trên. Đối với trường hợp người phạm tội dùng thủ đoạn khác, tội cướp có cấu thành vật chất tức là phải có hậu quả nạn nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự được Tội cướp mới hoàn thành.

Ví dụ : A bỏ thuốc mê vào cốc nước của B là lái xe Taxi nhằm cướp tài sản. Nhưng B ngửi thấy mùi lạ nên không uống và hô hoán lập tức A bị bắt. Trường hợp này tội cướp tài sản chưa hoàn thành vì nạn nhân chưa lâm vào tình trạng không thể chống cự được

d. Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm

Tội cướp được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt và mong muốn chiếm đoạt tài sản đó. Mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác là yếu tố bắt buộc của cấu thành tội phạm.

Ý thức chiếm đoạt của người phạm tội phải có trước khi thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể tự vệ được. Nếu có hành vi tấn công nhưng vì động cơ và mục đích khác chứ không nhằm chiếm đoạt tài sản, nhưng sau đó người bị tấn công bỏ chạy, để lại tài sản và người có hành vi tấn công lấy tài sản đó thì không phải là tội cướp tài sản mà tùy vào trường hợp cụ thể để truy cứu trách nhiệm hình sự người có hành vi tấn công theo các tội tương ứng; riêng hành vi chiếm đoạt tài sản của người có hành vi tấn công có thể là hành vi phạm tội công nhiên chiếm đoạt hoặc chiếm giữ trái phép tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể.

3. Tội cướp tài sản, bị xử lý như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, cụ thể :

Điều 168. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Làm chết người;

d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Xem thêm : Người dưới 18 tuổi phạm tội cướp tài sản, bị phạt bao nhiêu năm tù

4. Đã khắc phục hậu quả, bị hại có đơn bãi nại, người phạm tội có bị khởi tố không ?

Khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về “Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại” như sau:

“1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ Luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.”

Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, Tội cướp tài sản không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Do đó, nếu đã khắc phục hậu quả, bị hại đã rút đơn tố cáo hoặc có đơn yêu cầu không khởi tố thì người phạm tội vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Khi cơ quan tiến hành tố tụng xem xét hình phạt dựa trên tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xem thêm : Phạm tội cướp tài sản có được hưởng án treo không ?

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.