Tội giết người theo Điều 123 Bộ luật Hình sự

78

Giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi giết người là một hành vi vi phạm pháp luật đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm trực tiếp đến tính mạng người khác.

Tội giết người, bị xử lý như thế nào ?
Tội giết người, bị xử lý như thế nào ?

1. Tội giết người, những dấu hiệu cơ bản

Về phía người phạm tội

a) Hành vi khách quan của tội phạm bao gồm cả hành động và không hành động

Trường hợp hành động thường được biểu hiện như: đâm, chém, bắn, đấm đá, đốt cháy, đầu độc, bóp cổ, treo cổ, trói ném xuống vực, xuống sông, chôn sống,

Trường hợp không hành động ít gặp nhưng vẫn có thể xảy ra. Ví dụ: Một y tá có mâu thuẫn với người bệnh đã cố tình không cho người này uống thuốc theo chỉ định của bác sỹ để người bệnh chết, mặc dù người y tá này phải có nghĩa vụ cho người bệnh uống thuốc.

b) Hành vi tước đoạt tính mạng của người khác phải là hành vi trái pháp luật, tức là luật cấm mà cứ làm, luật bắt làm mà không làm

Như vậy, sẽ có trường hợp tước đoạt tính mạng người khác được pháp luật cho phép như: hành vi tước đoạt tính mạng của người khác trong trường hợp phòng vệ chính đáng, trong tình thế cấp thiết hoặc thi hành một mệnh lệnh hợp pháp của nhà chức trách. Ví dụ: Người cảnh sát thi hành bản án tử hình đối với người phạm tội.

Hành vi trái pháp luật phải là nguyên nhân gây ra hậu quả chết người, tức là có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.

Nếu một hành vi đã mang trong đó mầm mống dẫn đến cái chết cho nạn nhân, nhưng hành vi đó lại được thực hiện trong hoàn cảnh không có những điều kiện cần thiết để hậu quả chết người xảy ra và thực tế hậu quả đó chưa xảy ra, thì người có hành vi vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người nhưng ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Ví dụ: A có ý định bắn vào đầu B nhằm tước đoạt tính mạng của B, nhưng đạn không trúng đầu mà chỉ trúng tay của B nên B không chết.

c) Hành vi tước đoạt tính mạng người khác là hành vi được thực hiện do cố ý

Cố ý giết người là trường hợp trước khi có hành vi tước đoạt tính mạng người khác, người phạm tội nhận thức rõ hành động của mình tất yếu hoặc có thể gây cho nạn nhân chết và mong muốn hoặc bỏ mặc cho nạn nhân chết.

Sự hình thành ý thức của người có hành vi giết người được biểu hiện khác nhau:

– Dạng biểu hiện thứ nhất là trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm đến tính mạng người khác, người phạm tội thấy trước được hậu quả chết người tất yếu xảy ra và mong muốn cho hậu quả đó phát sinh. Loại biểu hiện này rõ nét. Biểu hiện ý thức này ra bên ngoài thường bằng những hành vi như: chuẩn bị hung khí (phương tiện); điều tra, theo dõi mọi hoạt động của người mà mình định giết; chuẩn bị những điều kiện, thủ đoạn để che giấu tội phạm… Trường hợp giết người có sự chuẩn bị trước bị coi là giết người có dự mưu. Khoa học luật hình sự gọi là cố ý có dự mưu.

Tuy nhiên, cũng có trường hợp trước khi hành động, người phạm tội không có thời gian chuẩn bị nhưng họ vẫn thấy trước được hậu quả tất yếu xảy ra và cũng mong muốn cho hậu quả phát sinh. Ví dụ: A và B cãi nhau, sẵn có dao trong tay (vì A đang thái thịt lợn), A dùng dao chém liên tiếp nhiều nhát vào đầu B làm B chết ngay tại chỗ. Trường hợp này gọi là giết người do bột phát. Khoa học luật hình sự gọi là cố ý đột xuất.

– Dạng biểu hiện thứ hai là trước khi có hành vi nguy hiểm đến tính mạng người khác, người phạm tội chỉ nhận thức được hậu quả chết người có thể xảy ra chứ không chắc chắn xảy ra vì người phạm tội chưa tin vào hành vi của mình nhất định sẽ gây ra hậu quả chết người. Bản thân người phạm tội cũng mong muốn cho hậu quả xảy ra, nhưng họ lại không tin một cách chắc chắn rằng hậu quả ắt xảy ra. Ví dụ: Nguyễn Văn T gài lựu đạn nhằm giết Trần Văn P vì T đã theo dõi hàng ngày P thường đi qua đoạn đường này, nhưng T không tin vào khả năng gây nổ của lựu đạn hoặc chưa chắc T đã đi qua và có đi qua chưa chắc đã vấp phải lựu đạn do T gài.

– Dạng biểu hiện thứ ba là trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm đến tính mạng của người khác, người phạm tội cũng chỉ thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra tuy không mong muốn, nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra. Ví dụ: Hoàng Công C mắc điện trần vào cửa chuồng gà với ý thức để kẻ trộm nếu vào bắt gà thì sẽ bị điện giật. Vũ Văn H là người thường trộm cắp gà của dân, anh ta lẻn vào chuồng gà của gia đình C bắt trộm gà và đã chạm vào dây điện, bị điện giật chết. Trường hợp này khoa học luật hình sự gọi là phòng vệ trước. Tình trạng này cũng thường xảy ra ở nhiều nơi thường bị mất trộm gia cầm, cây ăn trái. Do nhận thức của người dân, không biết rằng hành vi mắc dây điện trần là rất nguy hiểm đến tính mạng. Có trường hợp chính người nhà của người phạm tội bị điện giật chết do vướng vào dây điện. Khi hậu quả chết người xảy ra, hầu hết người phạm tội đều khai rằng, do bị mất trộm nhiều lần nên mới phải đề phòng. Tuy nhiên, sự để phòng này là trái pháp luật và nếu có người bị chết thì người mắc dây điện phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, dù ý thức không mong muốn cho chết người.

Người phạm tội giết người có thể mong muốn cho người khác chết nhưng cũng có thể bỏ mặc, ai chết cũng được.

Tuy nhiên, đối với tội giết người thì mỗi người có động cơ khác nhau, kể cả vụ án có tổ chức thì không phải người đồng phạm nào cũng vì động cơ như nhau. Ví dụ: Phạm Công D, Nguyễn Mạnh T và Mai Ngọc V rủ nhau đánh Nguyễn Văn M, nhưng mỗi người có động

cơ khác nhau. D có mâu thuẫn với M vì tranh chấp nhà cửa, T thì muốn giết M vì tranh chấp thừa kế, còn V thì muốn giết M vì M lấy người yêu của mình. Động cơ không phải là yếu tố định tội giết người, nhưng trong một số trường hợp, nó là yếu tố định khung hình phạt như giết người vì động cơ đê hèn.

Những dấu hiệu khác như: thời gian, địa điểm, hoàn cảnh… chỉ có ý nghĩa xác định mức độ nguy hiểm đối với hành vi giết người, chứ không có ý nghĩa định tội.

Chủ thể của tội giết người là bất kỳ, nhưng phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và phải là người từ đủ 14 tuổi trở lên, vì tội giết người là tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự.

d) Hành vi chuẩn bị phạm tội giết người cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội

Theo quy định tại Điều 14 Bộ luật Hình sự, chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm trừ trường hợp quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.

Từ trước đến nay, hành vi chuẩn bị phạm tội giết người đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự, vì tội phạm giết người là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nên người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự ngay từ giai đoạn chuẩn bị phạm tội.

Về phía nạn nhân

Người bị giết phải là người còn sống, vì tội giết người là tội xâm phạm đến tính mạng con người. Nếu một người đã chết, thì mọi hành vi xâm phạm đến xác chết đó không phải là hành vi giết người, nhưng giết một người sắp chết vẫn là giết người.

Giết một đứa trẻ mới ra đời cũng là giết người, nhưng phá thai, dù cái thai đó ở tháng thứ mấy cũng không gọi là giết người; vì vậy giết một phụ nữ đang có thai không phải là giết nhiều người.

Trường hợp người phạm tội tưởng nhầm xác chết là người đang còn sống mà có những hành vi như bắn, đâm, chém,… với ý thức giết thì vẫn phạm tội giết người. Khoa học luật hình sự gọi là sai lầm về đối tượng.

Xem thêm :

Phân biệt tội giết người và tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Phân biệt tội giết người và tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

2. Tội giết người, bị xử lý như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

“Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội giết người theo Điều 123 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.